Tiểu Sử Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Trung Hạ Quán

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật
Nam Mô Kim Liên Ðường Thượng Lịch Ðại Tổ Sư Tác Ðại Chứng Minh

I – Thân Thế

Hòa Thượng Thích Trung Quán, đạo hiệu Thanh Quất, thế danh Vũ Thanh Quất sinh ngày 9 tháng 6 năm Mậu Ngọ trong một gia đình hiền lương tại làng Hạ Kỳ, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Ðịnh, miền bắc Việt Nam.
Thân phụ là cụ ông Vũ Ðình Duật, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nhiên. Hòa thượng là người con thứ hai trong gia đình gồm 2 trai và 2 gái.

II – Xuất Gia Tu Học

Hòa thượng thân đọc lịch sử tổ Huyền Quang thi đỗ trạng nguyên mà vẫn cắt tóc xuất gia, rời bỏ vinh hoa, không màn danh lợi, thiết tha cầu Ðạo, lấy am tranh làm đạo tràng, nhận vải thô làm y phục; nhờ đó Hòa thượng đã thấu hiểu lý vô thường của vạn hữu, mùi tạm bợ của quyền uy, Ngài tìm đến Tổ đình Kim Liên (Ðồng Ðắc) Ninh Bình để tầm sư học đạo. Tổ đình Kim Liên vốn là chốn địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều bậc xuất trần thượng sĩ. Hòa thượng cầu xin thế phát xuất gia với Hòa thượng thượng Ðức hạ Nhuận (Tổ Ðồng Ðắc). Sau đó, Ngài được Sư tổ truyền cho giới Sa di và giới Tỳ khưu.

Từ khi sơ tâm xuất gia, Ngài luôn tinh tiến tu hành, chuyên cần học tập giáo pháp Phật đà và đặc biệt Ngài có nhân duyên thù thắng với bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa; cho nên Ngài đã nhập tâm và hằng ngày đều trì tụng bộ kinh Ðại thừa thâm nghĩa này. Dưới sự dìu dắt dạy bảo ân cần của Sư tổ, cộng với sự quyết chí cầu tiến của bản thân. Hòa thượng luôn nhất tâm học tập kinh luật và hành trì lễ bái, cung kính tôn trọng các bậc trưởng thượng, hòa nhã nhún nhường với đệ huynh.

Hòa thượng là một trong những đệ tử đắc pháp với Sư tổ Ðồng Ðắc (đức Ðệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam).

III – Sự Nghiệp Hoằng Truyền Chánh Pháp

Hòa thượng được Tổ truyền thừa và giao trách nhiệm vào Nam để hoằng pháp. Tại Thanh Minh thiền viện, Hòa thượng đã đem giáo lý Phật đà giảng dạy và khai hóa tâm địa cho nhiều người hữu duyên.

Năm 1959, Hòa thượng nhận lời thỉnh cầu của cố đại Hòa thượng Thích Lương Sơn (cụ Thanh Tuất) sang Ai Lao để hoằng dương Phật pháp. Ngài đã phát huy vai trò “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự” tại nơi đây và là một trong những vị đầu tiên truyền bá tư tưởng Phật giáo Ðại thừa tại xứ này. Khắp 3 miền: Thượng, Trung, Hạ Lào, Ngài đã khai sơn cũng như đóng vai trò lãnh đạo tinh thần 10 ngôi chùa. Trong những ngôi Phạm vũ huy hoàng đó, nổi bậc nhất là ngôi chùa Phật Tích tại miền Thượng Lào (Luang Prabang) và chùa Bàng Long tại thủ đô Viên Chăn

Năm 1977, cố đại lão Hòa thượng Thích Chân Thường viện chủ chùa Quan Âm cung thỉnh Hòa thượng sang Pháp hoàng dương Phật Ðạo, Ngài đã truyền bá Giáo lý Ðại thừa tại các Tổ đình Quan Âm và Hồng Hiên.

Năm 1981, vì sự nghiệp “Hoằng pháp vi gia vụ, Lợi sinh vi bổn hoài” Hòa thượng sáng lập chùa Hoa Nghiêm. Ðây là dấu ấn đầu tiên Ngài hóa Ðạo trên đất Pháp.

Trong hơn một thập niên, Hòa thượng đã kiến tạo thêm 2 ngôi chùa: Ðó là chùa Pháp Vương tại Noyant và chùa Hoa Nghiêm tại Bruxelles (Vương Quốc Bỉ). Ngoài ra, cũng có nhiều ngôi chùa đã nương vào công đức Ngài được thành lập và suy tôn Hòa thượng là vị lãnh đạo tinh thần tối cao cho các đạo tràng, tiêu biểu là chùa Phật giáo Việt Nam tại Seattle (Mỹ Quốc), chùa Nhân Vương tại Troyes, chùa Hoa Nghiêm tại Grenoble, chùa Kim Quang tại Bobygny, chùa Hộ Quốc tại Roubaix, chùa Từ Ân tại Bonneville.

Năm 1991 Ngài được cung thỉnh làm Yết – ma tại Giới đàn chùa Vạn Phật Thánh Thành ở Mỹ quốc, trong Giới đàn này Hòa thượng Tuyên Hóa làm Ðàn Ðầu Hòa thượng.

IV – Sự Nghiệp Dịch Thuật và Biên Soạn

Hơn 60 năm xuất gia tu đạo, với trình độ Phật học uyên thâm, quảng bác và giới đức trang nghiêm, thanh tịnh; Hòa thượng được suy tôn là một trong những tàng cây đại thụ cho Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại.

Ngoài sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Hòa thượng dành nhiều thời giờ cho việc phiên dịch và biên soạn kinh điển để giúp Tăng Ni, Phật tử có thêm tài liệu nghiên cứu, tu học. Hòa thượng đã để lại một gia tài Pháp bảo vô giá. Trong gia tài Pháp Bảo trân quý này, nổi bậc nhất là: bộ Ðại Trí Ðộ luận, kinh Hiền Ngu, kinh Phật Bản Tập Hạnh, kinh Thiện Ác Nhân Quả, kinh Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật, kinh Nghiệp Báo Sai Biệt, kinh Ðại Thông Phương Quảng, kinh Phật Thuyết Ðại Thừa Tạo Tượng Công Ðức, Chư Kinh Toát Yếu Truyện, kinh Vãng Sinh Luận, kinh Nhân Vương Hộ Quốc, kinh A Hàm (cảo bản), Biện Minh Tu Chứng tập I, Biện Minh Tu Chứng tập II, v.v..

Với trên 30 tác phẩm biên soạn và dịch thuật, Hòa thượng đã để lại hàng hậu học một gia tài Pháp bảo vô giá và góp phần xiển dương Chính Pháp làm cho Giáo lý đức Phật trường tồn bất diệt.

V – Nhiếp Hóa Ðộ Chúng

Hòa thượng đã truyền thụ Tam quy Ngũ giới, cho hàng nghìn thiện nam tín nữ từ Việt Nam, đến Ai Lao, rồi các nước trên Châu Âu cũng như trên khắp thế giới.

Tại các đạo tràng ở Lào, Hòa thượng đã độ được hơn 20 vị Tăng và hơn 30 vị Ni xuất gia cũng như ngàn nghìn thiện nam, tín nữ quy y.

Nơi Tổ đình Hoa Nghiêm, Paris Pháp quốc, Hòa thượng đã thế phát xuất gia và lập đàn truyền giới cho 12 vị Tăng và 26 vị Ni, đồng thời hàng nghìn thiện nam, tín nữ cũng phát tâm quy y và thụ giới với Ngài.

Những đệ tử xuất gia trung kiên với Hòa thượng như: Thượng tọa Thích Minh Chiếu, Thích Ðức Thắng; Ðại đức Thích Minh Ðịnh, Thích Minh Ðăng, Thích Viên Giác, Thích Viên Mãn… Các vị đệ tử xuất gia nay y chỉ với Hòa thượng như: Ðại đức Thích Viên Minh… Về Ni giới như: Ni sư Thích Nữ Ðàm Lương (nay kế vị Hòa thượng trong chức vị Trú trì tổ đình Hoa Nghiêm), quý Sư cô Thích Nữ Ðàm Phương, Thích Nữ Ðàm Chất, Thích Nữ Ðàm Liên, Thích Nữ Ðàm Như…

VI – Lập Hạnh Tu Trì

Hòa thượng bản tính vốn hiền hòa, Ngài thường dùng thân giáo hơn là khẩu giáo để khích lệ tứ chúng tu hành. Suốt cuộc đời tu hành, Hòa thượng chỉ một lòng với Ðạo, lấy sự tu nhẫn nhục làm đầu, nương đức từ bi hỷ xả làm trọng, lập nguyện bố thí làm hạnh, lục thời lễ lạy Hồng danh chư Phật, trì tụng bộ Ðại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Ðó chính là thời khóa công phu hằng ngày của Hòa thượng, dù trong lúc khỏe mạnh hay khi tứ đại bất hòa, Ngài vẫn không bao giờ xao lãng.

Một nét đẹp trong cuộc đời hành đạo của Hòa thượng là cho dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Ngài cũng lập chùa, tạo tượng. Nhiều tôn tượng đức Bổn Sư, chư vị Bồ tát do chính tay Ngài đắp lấy. Ðó cũng là một hạnh nguyện đặc biệt rất hiếm có với bất kỳ Tăng sĩ nào.

Rồi, thời gian đã trãi qua hơn nữa thế kỷ, dù hoàn cảnh có đổi dời, xuân hạ thu đông 4 mùa thay áo, Hòa thương hoằng pháp ở bất cứ nơi đâu, giáo hóa chúng sinh ở bất cứ nơi nào. Ngài từ sơ tâm xuất gia cho đến ngày nay vẫn chỉ có ba y, bình bát cùng với công phu tu hành, lập nguyện độ sinh, khiêm cung hòa nhã, mà đức độ của Ngài vẫn tỏa sáng khắp mọi nơi làm bóng mát che chở cho muôn người, làm gương sáng cho hàng tứ chúng nương tựa.

VII – Viên Tịch

Thế rồi:
Sinh như thể đắp chăn đông
Tử như cởi áo hạ nồng khác chi
Xưa nay các pháp hữu vi
Không sao tránh khỏi biệt ly vô thường

Dòng thời gian dần trôi, nhật nguyệt hằng đắp đổi. Bước chân Hòa thượng ngày càng mệt mỏi, thân tứ đại hiển hiện lý vô thường, Hòa thượng đã nhẹ gót quy Tây, xả bỏ báo thân, hội nhập pháp thân thường trụ vào lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 1 tháng 4 năm 2003 (nhằm ngày 30 tháng 2 Quý Mùi), trụ thế 86 năm, hạ lạp 66 tuổi.

Thế là Hòa thượng đã từ bỏ huyễn thân trong cõi hồng trần, đi vào cõi Niết bàn bất sinh bất diệt, nhưng gương sáng về trí tuệ, giới hạnh và tinh thần phục vụ Ðạo pháp của Ngài vẫn còn lưu mãi với thế gian, trong tâm tư ký ức của những người con Phật và trong lịch sử Phật giáo hiện tại và mai sau.

Nam Mô Ma Ha Sa Môn Tỷ Khưu Bồ Tát Giới Thích Trung Quán, Hiệu Thanh Quất, Ðại Lão Hòa Thượng Thiền Tọa Hạ Tác Ðại Chứng Minh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *